Loading

wait a moment

Điểm cơ bản của khống chế chất lượng quá trình thi công

1. Yêu cầu của không chế chất lượng:

– Yêu cầu của khống chế chất lượng trong quá trình thi công:
+ Kiên quyết lấy dự phòng làm chính, tiến hành khống chế sự việc trước đối với các trọng điểm, phòng tránh khi chưa xẩy ra, loại trừ vấn đề chất lượng khi còn ở trạng thái manh nha;
+ Vừa phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, kiểm tra nghiêm túc, vừa phải giúp đỡ tận tình;
+ Phạm vi công việc, phạm vi độ sâu, dùng phương thức công tác nào khống chế chất lượng quá trình thi công, phải căn cứ vào các nhân tố như yêu cầu thực tế, kết hợp đặc điểm Công trình, nãng lực kỹ thuật và trình độ quản lý của nhà thầu, phải đề xuất yêu cầu và đề cương giám sát trước, sau khi chủ công trình đồng ý, phải làm thành nội dung của điếu khoản hợp đồng, quy định rõ ràng trong hợp đồng nhận thầu;
+ Trong quá trình xử lý vấn đề chất lượng, phải tôn trọng sự thực, tôn trọng khoa học, lập trường công bằng, khiêm tốn cẩn thận, thuyết phục người bằng lý, làm tốt công tác hoà giải, lấy được tình cảm của nhà thầu, giành dược tín nhiệm, xác lập được uy quyền của giám sát.
– Yêu cầu không chế chất lượng trình tự công việc:
+ Quy trình thao tác có liên quan đến công tác lắp đặt. Quy trình thao tác là quy phạm kỹ thuật thao tác được lập ra dê đảm bảo chất lượng trình tự công việc;
+ Quy trình công nghệ thi công và quy phạm nghiệm thu có liên quan;
+ Nếu dùng công nghệ mới, kỹ thuật mới, vật liệu mới, công trình kết cấu mới, trước khi dùng phải tiến hành thí nghiệm, quy trình công nghệ thi công được lập ra trên cơ sở đó, phải tiến hành kiểm định kỹ thuật cần thiết.

2. Nội dung và phương pháp khống chế chất lượng:

Trong giai đoạn thi công, kỹ sư giám sát thực hiện chức trách của mình như thê nào trong khống chế chất lượng, chủ yếu là thông qua các phương thức thẩm tra tài liệu kỹ thuật, thẩm tra các báo cáo có liên quan và trực tiếp tiến hành kiểm tra hiện trường hoặc thí nghiệm cần thiết.

– Thẩm tra tài liệu kỹ thuật, báo cáo hoặc bảng biểu có liên quan.

Thẩm tra đối với tài liệu chất lượng, báo cáo, bảng biểu là . biện pháp quan trọng tiến hành khống chế toàn diện đối với chất lượng công trình, nội dung cụ thể của nó là:
+ Thẩm tra các tài liệu chứng chỉ trình độ kỹ thuật của các đơn vị thầu phụ vào hiện trường thi công;
+ Thẩm tra báo cáo khởi công chính thức của nhà thầu, sau khi xem xét hiện trường, ra lệnh khởi công;
+ Thẩm tra phương án thi công và thiết kế tổ chức thi công mà nhà thầu giao nộp;
+ Thẩm tra báo cáo kiểm nghiệm chất lượng vật liệu, bán thành phẩm có liên quan mà nhà thầu giao nộp;
+ Thẩm tra tài liệu thống kê hoặc bảng biểu quản lý phản ánh trạng thái động của chất lượng trình tự công việc mà nhà thầu giao nộp;
+ Thẩm tra thay đổi thiết kế, bản vẽ sửa đổi và bản thẩm tra quyết định kỹ thuật;
+ Báo cáo xử lý sự cố chất lượng công trình có liên quan;
+ Kiểm tra tài liệu kiểm định íng dụng kỹ thuật mới, công nghệ mới, vật liệu mới, kết cấu mới có liên quan;
+ Thẩm tra các báo cáo kiểm tra trình tự cuốn chiếu công việc có liên quan;
+ Thẩm tra và ký chứng chỉ, hồ sơ kỹ thuật có liên quan tới chất lượng ở hiện trường.

– Nội dung kiểm tra chất lượng

Điểm cơ bản của khống chế chất lượng quá trình thi công 1

Kiểm tra chất lượng công trình

Nội dung chủ yếu kiểm tra chất lượng gồm có:
+ Kiểm tra trước lúc khởi công. Mục đích là kiểm tra có đầy đủ điều kiện khởi công hay không, sau khi khởi công có đảm bảo chất lượng công trình hay không, có thể tiến hành thi công liên tục hay không;
+ Kiểm tra bàn giao nối tiếp công việc;
+ Kiểm tra các công trình khuất;
+ Kiểm tra trước lúc thi công trở lại những công việc mà có thời gian ngừng thi công;
+ Sau khi xong công việc và xong bộ phận công trình và đã được nhân viên giám sát kiểm tra xác nhận đạt yêu cầu, mới ký vào sổ nghiệm thu;
+ Kiểm tra theo ca kíp hoặc theo toàn bộ công việc.

– Phưomg pháp kiểm tra. Có ba phưorng pháp kiểm tra chất lượng ở hiện trường: phương pháp kiểm tra bằng mắt, phương pháp đo thực tế, phương pháp thí nghiệm.

+ Phương pháp kiểm tra bằng mắt. Biện pháp kiểm tra bằng mắt, có thể quy nạp thành bốn chữ: xem, sờ mó, gõ, soi.
. Xem, là dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm tra bằng mắt ở bên ngoài;
. Sờ mó, là kiểm tra bằng cảm giác của tay: chủ yếu dùng để kiểm tra cho một số hạng mục trang trí
. Gõ, là dùng công cụ tiến hành kiểm tra bằng cảm giác âm, thông qua âm thanh để xác định có bị bộp hay không.
. Soi, là đối với các bộ phận công trình khó nhìn thấy hoặc tối, có thể dùng phương pháp kính phản xạ hoặc đèn chiếu tiến hành kiểm tra.

+ Phương pháp đo thực tế. Phương pháp kiểm tra đo thực tế là thông qua số liệu đo thực tế đối chiếu với sai số cho phép mà quy phạm thi công cùng với tiêu chuẩn chất lượng quy định, để phán đoán chất lượng có đạt yêu cầu không;

+ Phương pháp thí nghiệm. Là phương pháp kiểm tra mà phải thông qua những phương tiện thí nghiệm mới có thể phán đoán được chất lượng;
Kỹ sư giám sát khi kiểm tra chất lượng, nếu có nghi ngờ tài liệu chất lượng thì yêu cầu đơn vị thi công làm rõ thêm; Nếu phát hiện công trình có vấn đề chất lượng, thì thông thường, đầu tiên phải ra lệnh dừng việc, thông báo nhà thầu ngừng thi công hạng mục đó, sau đó yêu cầu nhà thầu báo cáo, nói rõ tình trạng sai sót của chất lượng và mức độ nghiêm trọng, nguyên nhân sinh ra sai sót và phương pháp, biện pháp xử lý đảm bảo chất lượng sau này. Sau khi xử lý chất lượng, được kỹ sư giám sát kiểm tra chứng nhận, mới ra lệnh tiếp tục thi công.

3. Tô chức khống chế chất lượng:

– Hình thức tổ chức khống chế chất lượng trong giai đoạn thi công:

+ Mỗi hạng mục bô trí kỹ sư giám sát trưởng, ở mỗi hạng mục nhỏ đặt kỹ sư giám-sát chất lượng chuyên ngành hoặc giám sát viên chất lượng;
+ Mỗi hạng mục bố trí kỹ sư giám sát trưởng, ở mỗi công trình chuyên ngành đặt kỹ sư giám sát chất lượng chuyên ngành hoặc giám sát viên chất lượng;
+ Hình thức hỗn hợp của hai loại trên;
+ Đối với đơn vị công trình đặc biệt phức tạp hoặc công trình chuyên ngành, có thể giao thầu giám sát chất lượng của bộ phận này hoặc uỷ thác cho các cơ quan chuyên ngành khác thực hiện.

Tóm lại, tổ chức công tác khống chế giám sát chất lượng thi công phải xuất phát từ yêu cầu thực tế, vừa phải quán triệt nguyên tắc chế độ trách nhiệm, vừa phải thê hiện được yêu cầu hiệu quả cao, không có dạng thức tổ chức cô định bất biến.

– Chế độ chức trách của giám sát chất lượng và chế độ công tác giám sát. Để khống chế chất lượng tốt, ngoài hình thức tố chức nhất định, phải lập chế độ trách nhiệm nhân viên giám sát và chế độ công tác giám sát tương ứng, nêu rõ chức trách chú yếu của mỗi nhân viên giám sát, để công tác giám sát được tiêu chuẩn hoá.

Chức trách chủ yếu của kỹ sư giám sát hiện trường là:
+ Phụ trách khống chế và kiểm tra chất lượng công trình của hạng mục, tổ chức nghiệm thu công trình riêng rẽ, công trình khuất, tham gia nghiệm thu từng giai đoạn của công trình và nghiệm thu hoàn công;
+ Thẩm tra kết quả thí nghiệm vật liệu và công nghệ, ký xác nhận đạt yêu cầu;
+ Thẩm tra khối lượng và chất lượng công trình tạm ứng theo tiến độ tháng, đồng thời ghi ý kiến;
+ Thẩm tra và khống chế phương án thi công, tiến độ thi công của công trình, đồng thời báo cáo kịp thời;
+ Phát thông báo hiện trường và thông báo sai phạm của hạng mục công trình;
+ Tham gia thẩm tra kế hoạch, phương pháp, biện pháp thi công mà nhà thầu lập, dự thảo hoặc kiểm tra văn kiện theo chức trách của “kỹ sư”;
+ Tổ chức thẩm tra đối với các yêu cầu của nhà thầu và đề xuất ý kiến xử lý;
+ Thẩm tra ghi chép, nhật ký trực ban của kiểm tra viên về chất lượng, làm tốt công tác phân tích tống kết, viết báo cáo hàng tuần của phần việc công trình;
+ Chỉ đạo và quản lý công tác của kiểm sát viên chất lượng;
+ Phụ trách thu thập, bảo quản nhật ký, tư liệu của các hạng mục công trình, đồng thời tiến hành chỉnh lý lưu trữ;
+ Phụ trách viết báo cáo từng giai đoạn công trình, kế hoạch công tác hàng quý, hàng năm và viết tổng kết.

Thông thường chế độ giám sát khống chế chất lượng được lập gồm có: chế độ hội thẩm học tập bản vẽ, chế độ bàn giao kỹ thuật, chế độ kiểm nghiệm vật liệu, chê độ nghiệm thu công trình khuất, chế độ chỉnh lý cải tiến chất lượng công trình, chế độ kiểm tra thay đổi thiết kế, chế độ chứng nhận thay đổi cốt thép, chế độ nghiệm thu bộ phận công trình, chế độ học tập nghiệp vụ và chế độ hội nghị.