Loading

wait a moment

Giám sát chính phủ và giám sát xã hội

Giám sát Chính phủ

Giám sát Chính phủ là chỉ các cơ quan hữu quan của Chính phủ (ở Nhà nước là Bộ Xây dụng, cơ cấu làm việc là Vụ giám sát Xây dựng đặt ỏ’ đó; ở địa phương là các cơ quan chủ quản xây dụng của chính quyền các cấp, cơ cấu làm việc là các phòng, khoa, tổ giám sát xây dựns đặt ở đó), thực hiện giám sát bắt buộc đối với Công trình xây dụng và thực hiện quản lý giám sát, đôn đốc đối với các đơn vị giám sát xã hội.

Nghiệp vụ giám sát của các cơ quan chủ quản Chính phủ là sự giám sát đối với người đầu tư. Bao gồm xét duyệt báo cáo tính khả thi của công trình xây dựng, kế hoạch xây dựng, nhiệm vụ thiết kế; thẩm tra nguồn vốn; xét duyệt báo cáo khởi công hoàn công của hạng mục xây dựng công trình; khống chế quy mô xây dựng. Những mặt công việc nêu ở trên, hiện nay chủ yếu do cơ quan kế hoạch của Nhà nước trực tiếp quản lý, chưa đưa vào giám sát Chính phủ. Nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự mở rộng quyền tự chủ đầu tư của xí nghiệp, quyền đầu tư từ Chính phủ trực tiếp quản lý quá độ sang Chính phủ thực hiện giám sát là lẽ đương nhiên.

Sự quản lý giám sát đôn đốc của Chính phủ đối với các đơn vị giám sát xã hội, bao gồm xác định và thực hiện quy định giám sát xây dựng; thẩm tra phê duyệt đơn vị và cá nhân giám sát xây dựng; tổ chức và theo dõi hoạt động mời thầu, đấu thầu xây dựng công trình; kiểm tra và theo dõi xử lý các sự cố lớn.

Đặc điểm cua giám sát Chính phủ là theo hướng dọc, vĩ mô, có tính bắt buộc, tính pháp luật, là đối với toàn bộ hoạt động xây dựng công trình, tiến hành quản lý toàn bộ quá trình về mọi mặt.

Giám sát xã hội

Giám sát xã hội là chỉ đơn vị sự nghiệp chịu sự uỷ thác của chủ công trình, thực hiện nhiệm vụ giám sát. Những nhân viên kỹ thuật công trình và quản lỷ hoặc cơ cấu chuẩn bị xây dựng .công trình đạt tư cách giám sát, đều có thể tự nguyện lập công ty giám sát xây dựng độc lập hoặc văn phòng giám sát xây dựng để kinh doanh. Cũng có thể các đơn vị thiết kế công trình, nghiên cứu khoa học, và tư vấn công trình đạt tư cách giám sát kiêm nhiệm kinh doanh. Nhưng dù hình thức tổ chức giám sát xã hội nào, đều phải được cơ quan giám sát Chính phủ thẩm tra phê duyệt, cấp chứng chỉ tư cách giám sát, xác định phạm vi nghiệp vụ giám sát, đồng thời xin đăng ký ở cơ quan quản lý hành chính công thương, sau khi có chứng chi hành nghề mới được hành nghề. Sau đó, thông qua cạnh tranh mà giành được nhiệm vụ giám sát công trình, đồng thời ký hợp đồng giám sát với đơn vị uỷ thác, xác định nội dung và mức chi phí giám sát. Một hạng mục xây dựng có thể uỷ thác cho một tổ chức giám sát thực hiện giám sát và cũng có thê uỷ thác cho vài tổ chức giám sát tiến hành giám sát. Nội dung giám sát công trình, có thể là giám sát toàn bộ quá trình hoặc cũng có thể chia ra: giám sát giai đoạn nào đó như nghiên cứu tính khả thi của hạng mục, khảo sát, thiết kế, thi công, mua vật liệu thiết bị, tính giá công trình, mời thầu đấu thầu. Giám sát xã hội thường chia thành hai giai đoạn lớn.

Hiện nay, các công ty giám sát của Trung Quốc đại bộ phận là tham gia công tác giám sát xây dựng trong giai đoạn thi công công trình.

Đặc điểm của giám sát xã hội là nhằm vào hoạt động thiết kế hoặc thi công của đơn vị thiết kê hoặc thi công để tiến hành giám sát ngang, vi mô, có tính uỷ thác, đồng thời có đặc điểm độc lập, công bằng, khoa học, phục vụ.