Loading

wait a moment

Khái niệm hợp đồng giám sát

1. Đặc trưng của hợp đồng giám sát:

– Hợp đồng phải được triển khai toàn diện.
Hai bên đương sự đối với hợp đồng thoả thuận phải triển khai nghĩa vụ quy định của hợp đồng một cách toàn diện, thoả đáng, không triển khai hoặc không triển khai thoả đáng nghĩa vụ hợp đồng, được coi như hành vi trái quy định.

– Họp đồng không được tự thay đổi hoặc huỷ bỏ.
Hợp đồng nếu đã ký thì không được tuỳ ý thay đổi. Nếu do tình hình khách quan mà một bên yêu cầu thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng, thì cùng nhau trao đổi và được sự đồng ý của đối tác, mới có thể thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Nếu không, sẽ là người vi phạm hợp đồng.

– Hop đồng là một dạng văn bản pháp luật, là cơ sở phản ánh tranh châ’p của hai bên, đương sự hai bên tranh luận đối với các phát sinh trong thực hiện hợp đồng, đều phải lấy các điều khoản, quy định của hợp đồng làm căn cứ.

– Khả năng cưỡng chế của Nhà nước đối với sự đảm bảo hợp đồng ngoài quy định pháp luật, như lực bất khả kháng, nếu đương sự không triển khai hoặc không triển khai đầy đủ hợp đồng, phải nộp phạt hoặc cưỡng chế bên làm trái phải triển khai hợp đồng theo pháp luật.

2. Hình thức hợp đồng giám sát:

Xem xét từ tình hình nước ngoài, hợp đồng giám sát chủ yếu có những hình thức sau:

– Hợp đồng chính thức do cơ quan quản lý tương ứng ký kết và thực hiện, lập ra theo quy định của yêu cầu pháp luật.
– Hợp đồng dạng thư tín. Thường do đơn vị giám sát lập, phía uỷ thác ký một bản, gửi cho đơn vị giám sát chấp hành.
– Thông báo uỷ thác. Thông qua một bản thông báo, trở thành hiệp nghị mà đơn vị giám sát tiếp nhận.
– Hợp đổng tiêu chuẩn. Nó gồm dạng hợp đồng tham kháo hoặc dạng hợp dồng tiêu chuẩn. Trên quốc tê thường sử dụng là “Bản mẫu quốc tế của hiệp nghị quản lý hạng mục của kỹ sư và quy tắc thông dụng quốc tế” của Hội liên hợp kỹ sư tư vấn quốc tê (FID1C) công bố.