Loading

wait a moment

Thu thập, phân tích số liệu tiến độ thi công thực tế

1. Thu thập sô liệu tiến độ thi công thực tế

Phương pháp cơ bản nhất của kỹ sư giám sát thực hiện khống chế giám sát đối với tiến độ thi công là thông qua các cơ hội,
định kỳ thu được tình hình tiến triển thực tê của Công trình, những cơ hội đó là:
– Thu thập định kỳ, thường xuyên, toàn bộ các tài liệu báng biểu có liên quan mà nhà thầu cung cấp;
– Tham gia các cuộc họp điều độ định kỳ có liên quan cùa nhà thầu (hoặc chủ công trình) triệu tập;
– Đi sát hiện trường, kiêm tra cụ thê tình hình thực tế thực hiện tiến độ. Dựa vào độ lớn cùa quy mô công trình, nửa tháng hoặc một tháng tiến hành một lần kiêm lại tiến độ công trình. Trong khi kiểm điểm tiến độ công trình, có thê dùng các biểu mẫu thống kê khác nhau như tiến độ công trình thực tế, báo cáo tiến độ, báo cáo hình tượng tiến độ.

2 Phân tích sô liệu tiến độ thi công thực tế

Kỹ sư giám sát khi phàn tích số liệu tiến độ thực tế trong thi công, đê đạt được mục tiêu khốns chế giám sát tiến độ, phải tiến hành so sánh tiến độ thực tế với tiến độ kế hoạch, từ đó phát hiện vấn đề, để có thể dùng những biện pháp cần thiết.
Đê có thế biếu thị một cách trực quan hình tượng “việc trựợt” giữa tiến độ thực tế và tiến độ kê hoạch, thường dùng các phương pháp sau:
– Sơ đồ ngang;
– Đường cong cộng dồn khối lượnc xây dựng;
– Đường cong cộng dồn khối lượng công việc (mức đầu tư);
– Kế hoạch theo sơ đồ mạng.

3. Điều chỉnh kê hoạch tiến độ thi công

Dựa vào kết quả phân tích số liệu đối với tiến độ thực tế, có thể thấy rõ “việc trượt” giữa tiến độ thực tế và tiến độ kế hoạch
Đối với “việc trượt” này, nếu ảnh hưởng đến việc hoàn thành công trình theo đúng thời hạn, phải kịp thời điều chỉnh tiến độ thi công.
Phương pháp điều chính kế hoạch tiến độ thi công, quyết định ở phương pháp lập bảng tiến độ thi công.

1. Dùng sơ dồ ngang lập bảng tiến độ thi công:

– So sánh tiến độ thực tế và tiến độ kế hoạch, nếu thời gian chậm ngày công không lớn, có thể không phá hỏng sự thăng bằng cuốn chiếu của toàn bộ kế hoạch tiến độ thi công, thì chỉ điều chỉnh cục bộ ở bộ phận nào đó (hoặc công việc nào đó).
– So sánh tiến độ thực tế và tiến độ kế hoạch, nếu thời gian chậm ngày công tương đối lớn, dùng biện pháp điều chỉnh cục bộ không thể điều chỉnh hết thời gian bị chậm. Lúc này phải tiến hành điều chính lớn kế hoạch tiến độ, dưới tiền đề đảm bảo thi công cuốn chiếu và thời gian dự kiến, điều chỉnh từng đoạn, sắp xếp lại quá trình thi công (hoặc từng bộ phận, từng công việc) và số đội chuyên ngành, tăng giảm người của các đội chuyên ngành để điều chỉnh kếhoậch tiến độ.

2. Dùng kế hoạch sơ dồ mạng dể lập tiến độ thi công:

Điều chỉnh kế hoạch sơ đồ mạng bao gồm những nội dung sau: điều chỉnh chiều dài đường găng; điểu chỉnh độ chênh thời gian làm việc không thuộc đường găng; tăng giám hạng mục công việc; điều chỉnh quan hệ lôgích; dự kiến lại thời gian duy trì của một số công việc; điều chỉnh cục bộ đối với đầu tư vốn.
Cần phải chỉ rõ: khống chế kế hoạch tổng tiến độ giai đoạn thi công phải dims máy tính làm công cụ trợ giúp. Đó là vì nhân viên giám sát hễ điều chỉnh phương án sơ đồ mạng, thì phải lập tức thể hiện biện pháp điều chỉnh, phản ảnh cụ thể trên kế hoạch tổng tiến độ. Rõ ràng, nếu tính tay mà điểu chỉnh kế hoạch sơ đồ mạng, công việc sẽ rất nặng nể, dễ xẩy ra sai sót; đồng thời, tốc độ tính tay chậm, làm cho việc sửa lại kế hoạch tổng tiến độ không kịp thời, ảnh hưởng tới thông báo thay đổi tiến độ và không gửi sớm tói các nhà thầu được, từ đó không còn tác dụng khống chế tiến độ. Hoặc nếu thời gian thông báo quá chậm sẽ làm mất đi ý nghĩa điều chỉnh (bởi vì lúc này lại có những biến động mới, lại phải tiến hành điều chỉnh), chỉ có tốc độ tính toán của máy tính mới đảm bảo điều chỉnh kế hoạch kịp thời. Ở nước ngoài, hiện nay đều có phần mềm máy vi tính khống chế tiến độ sơ đồ mạng có thể sử dụng được.