Loading

wait a moment

Ý nghĩa của giám sát xây dựng

Giám sát Xây dựng là chỉ các công tác kiểm tra, đôn đốc, chỉ đạo và đánh giá công việc những người tham gia công trình. Nó lấy hoạt động của hạng mục công trình xây dựng làm đối tượng; lấy pháp luật, quy định, chính sách và tiêu chuẩn kỹ thuật có liên quan, văn bản hợp đồng công trình làm chỗ dựa, lấy quy phạm thực hiện công việc, lấy nâng cao hiệu quả xây dựng làm mục đích.

giám sát xây dựng là sản phẩm của sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Khi người có vốn tiến hành đầu tư một hạng mục mới, cần phải mời những chuyên gia có kinh nghiệm tiến hành nghiên cứu tính khả thi, xác định sách lược đầu tư; Sau khi xác định hạng mục, lại phải có nhũng nhà chuyên môn tổ chức đấu thầu, làm công tác quản lý công trình và quản lý hợp đồng. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường, công việc giám sát xây dựng được bổ sung và hoàn thiện thêm một bước, dần dần trở thành một bộ phận cấu thành của trình tự xây dựng và thông lệ quốc tế thực thi xây dựng.

Giám sát xây dựng của Trung Quốc có ý nghĩa tư vấn và thực thi đối với hạng mục xây dựng, nó bao gồm những nội dung điều tra nghiên cứu, đánh giá tính khả thi, tổ chức thiết kế, chỉ đạo thi công, giám sát nghiệm thu đối với hạng mục xây dựng, về cơ bản tương tự với ý nghĩa giám sát xây dựng quốc tế.

Chính phủ Trung Quốc đề ra chế độ thực hiện giám sát xây dựng trong xây dựng công trình vào năm 1988. Văn bản số 142 “Thông tri của Bộ Xây dựng về mở rộng công tác giám sát xây dựng” (88), đã có những quy định rõ ràng đối với việc thực hiện chế độ này. Từ năm 1988 lại đây, để đẩy mạnh sự phát triển ổn định của công tác giám sát xây dựng, Bộ Xây dựng đã đề xuất phương châm chỉ đạo “Bước đầu thí điểm, làm theo quy định, hình thức phong phú, chú trọng hiệu quả, từng bước nâng cao, phát triển vững vàng”, dùng kế hoạch thời gian 5 năm, xây dựng một cách hoàn thiện chế độ mới này. Hiện nay, thí điểm giám sát xây dựng đã mở rộng trong phạm vi toàn quốc, công trình thí điểm đã có hiệu quả rõ rệt trong khống chế đầu tư, đảm bảo chất lượng công trình và tiến độ; Tổ chức giám sát, trình tự công việc và phương pháp giám sát đã tiến dần theo hướng tiêu chuẩn hoá. Dựa vào điều tra cuối 1992 của Bộ Xây dựng trong phạm vi 28 khu vực, 12 thành phố, 10 bộ môn giao thông, công nghiệp trong toàn quốc, đã hình thành gần 400 đon vị giám sát, hơn 21 ngàn nhân viên giám sát, hơn 1.800 công trình vừa và lớn được giám sát, diện tích xây dựng hơn 3.000ha, hơn 5.000 cây số đường cao cấp, dung lượng điện gần 20 triệu kW, tổng đầu tư đạt 190 tỷ nhân dân tệ.

Cùng với sự phát triển mạnh của công cuộc cải cách mỏ’ cửá, ngày càng nhiều các hạng mục nước ngoài đầu tư, góp vốn, vay vốn đã tạo thành một bộ phận quan trọng trong xây dựng công trình ở Trung Quốc. Việc xây dựng những hạng mục công trình này được người đầu tư hoặc phía cho vay, đòi hỏi thực hiện chế độ giám sát xây dựng về cơ bản theo thông lệ quốc tế đối với hạng mục công trình xây dựng. Vì trước năm 1988 ở Trung Quốc chưa có chế độ giám sát xây dựng và có đội ngũ giám sát tương ứng, do vậy phải dùng người nước ngoài giám sát với giá đắt. Theo thống kê từ năm 1979 đến năm 1988, các công trình vay vốn ngân hàng thế giới, nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và góp vốn xây dụng, chỉ riêng chi phí giám sát ước khoảng 1,5 đến 2 tỷ đô la, trong đó tuyệt đại bộ phận chi phí cho nhân viên giám sát nước ngoài. Mặt khác, đội ngũ xây dụng của Trung Quốc khi bước vào thị trường nhận thầu quốc tế, vì không quen với thông lệ quốc tế, thiếu kiến thức giám sát và kinh nghiệm chịu giám sát, nên làm tổn hại tới thu nhập kinh tế và uy tín của xí nghiệp.

Theo thống kê từ năm 1976 đến năm 1988, Trung Quốc triển khai nhận thầu công trình bên ngoài và họp tác lao động, vì đội ngũ thi công chưa phù hợp với chế độ giám sát cũng thu nhập thiếu hụt hàng trăm triệu đô la. Có thể thấy rằng, Trung Quốc thực hiện mở rộng chế độ giám sát xây dụng, tổ chức xây dựng công trình theo thông lệ quốc tế là một trong những mốc thay đổi môi trường đầu tư của Trune Quốc, có lợi cho cho việc thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh một bước công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc.